Cách tính phí bảo hiểm nhân thọ

Cách tính phí bảo hiểm nhân thọ

557
0

1.Phí bảo hiểm nhân thọ là gì ?

Phí bảo hiểm nhân thọ là là số tiền cần phải thu của công ty bảo hiểm để công ty bảo hiểm đảm bảo trách nhiệm của mình khi có các sự kiện bảo hiểm được xảy ra đối với người tham gia bảo hiểm như : chết, hết hạn hợp đồng bảo hiểm, thương tật và bảo đảm cho việc hoạt động của công ty. Đây cũng là thể hiện trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm với công ty bảo hiểm nhằm nhận được sự bảo đảm trước những rủi ro đã được nhà bảo hiểm nhận bảo hiểm.
Phí bảo hiểm có thể nộp một lần ngay sau kí hợp đồng bảo hiểm hoặc có thể nộp định kì trong năm. Phí một lần sẽ phải đóng góp ít hơn so với tổng số chi phí đóng góp hàng kỳ do hiệu quả đầu tư của việc đóng phí một lần cao hơn và chi phí quản lý thấp hơn.
2. Cách tính phí bảo hiểm nhân thọ
Trách nhiệm của người được bảo hiểm tại thời điểm ký hợp đồng bằng trách nhiệm của công ty bảo hiểm tại thời điểm ký kết hợp đồng. Nguyên tắc tính phí được dựa trên biểu thức cân bằng giữa trách nhiệm của công ty bảo hiểm và trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm tính theo giá trị tại thời điểm ký kết hợp đồng. Phí bảo hiểm gồm hai phần: phí thuần và phụ phí.
– Phí thuần là những khoản phí dùng để chi trả cho người được bảo hiểm. Có rất nhiều yếu tố tác động nhưng cơ bản vẫn là:

+ Tuổi thọ của người được bảo hiểm cụ thể là bằng tỉ lệ tử vong
+ Lãi suất kỹ thuật lãi suất tiền gửi tính trong cơ sở tính phí
+ Ngoài ra, còn có các nhân tố khác tác động như thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, cách thức nộp phí, tỉ lệ hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn
– Phụ phí gồm:
+ Chi phí khai thác chi cho tuyên truyền, quảng cáo, môi giới, chi cho đại lý…
+ Chi phí quản lý hợp đồng trong thời hạn hợp đồng đang thu phí, kể cả chi phí thu phí BH..
+ Chi phí quản lý liên quan đến các khoản chi trả bồi thường                                              Thông thường, thu phí chiếm khoảng 5% phụ phí, trong đó: 3% chi phí quản lý và 2% chi phí khai thác Hợp đồng.    Mức phí không thay đổi trong suốt thời hạn hợp đồng BHNT, người tham gia bảo hiểm có thể nộp theo tháng, quý năm hoặc theo hai kỳ trong năm , công thức tính phí nộp mỗi kỳ ( F) theo phí tháng như sau:
Nếu nộp phí theo quý, tính phí mỗi kỳ như sau:

F quý = F tháng * 3*0,968 ( so với phí đóng theo tháng thì phí giảm 2% )
Nếu nộp phí hai kỳ trong năm, tính phí mỗi kỳ như sau:

F 2 kỳ =  F tháng * 6*0,96 ( so với tổng số phí theo tháng thì tổng số phí nộp theo hai kỳ trong năm giảm 4% )
Nếu nộp phí theo năm , tính phí mỗi kỳ như sau:

F năm = F tháng* 12 * 0,92 ( so với tổng số phí nộp theo tháng thì tổng số phí theo năm giảm 8% ).
3. Phí bảo hiểm cho các mức số trên bảo hiểm được tính theo tỷ lệ sau:
+ Với các mức số tiền bảo hiểm từ 5 triệu đến 30 triệu thì tính bằng 100% tỷ lệ phí của một đơn vị số tiền bảo hiểm
+ Với các mức số tiền bảo hiểm từ 31 triệu đến 40 triệu đồng thì tính bằng 98% tỷ lệ phí của một đơn vị số tiền bảo hiểm

– Nguyên tắc: dựa trên phương pháp thống kê của các năm trước về tỷ lệ những khiếu nại đã xảy ra nhưng chưa baó cáo hoặc chưa thanh toán trên tổng số khiếu nại của một số năm trước đó.
– Quỹ này giúp cho việc đánh giá hiệu quả kinh doanh trong năm tài chính đó được đúng hơn. Ngoài ra quỹ này nhiều khi còn tránh cho công ty phải nộp vào ngân sách Nhà nước số lượng tiền lớn , do lãi của năm đó lớn bằng cách trích vào quỹ theo tỷ lệ. Quỹ được trích từ tổng doanh thuVới các mức số tiền bảo hiểm từ 41 triệu đến 50 triệu thì tính bằng 97% tỷ lệ phí của một đơn vị số tiền bảo hiểm                                                       4. Số tiền bảo hiểm
Đây là hạn mức trách nhiệm của nhà bảo hiểm đối với người được hưởng quyền lợi bảo hiểm. Trong BHNT  của trẻ em thì nhà bảo hiểm sẽ đưa ra nhiều mức số tiền khác nhau và người tham gia bảo hiểm sẽ dựa trên khả năng tài chính của mình để lựa chọn số tiền thích hợp nhất .
5. Quỹ dự phòng phí và quỹ dự phòng bồi thường
Quỹ dự phòng phí là quỹ đảm bảo cho trách nhiệm bảo hiểm khi hết hạn hợp đồng hoặc khi người bảo hiểm chết
– Nguyên tắc: dựa trên trách nhiệm tại thời điểm của công ty và người tham gia bảo hiểm. Theo thời hạn của hợp đồng thì trách nhiệm đóng phí của người tham gia bảo hiểm ngày một giảm đi trách nhiệm phải đóng phí ) còn trách nhiệm của công ty ngày càng tăng lên.
+ Thời điểm tính: cuối năm nghiệp vụ .
+ Quỹ này đảm bảo khả năng chi trả của công ty bảo hiểm. Quỹ được trích từ phí thu của người tham gia bảo hiểm và lãi đầu tư từ dự phòng phí năm trước; phí thu trong năm .
Quỹ dự phòng bồi thường là quỹ đảm bảo cho những khiếu nại đã xảy ra nhưng chưa thông báo ( vào năm tài chính trước ) hoặc những khiếu nại đã giải quyết nhưng chưa thanh toán.
– Nguyên tắc: dựa trên phương pháp thống kê của các năm trước về tỷ lệ những khiếu nại đã xảy ra nhưng chưa báo cáo hoặc chưa thanh toán trên tổng số khiếu nại của một số năm trước đó.
–  Quỹ này giúp cho việc đánh giá hiệu quả kinh doanh trong năm tài chính đó được đúng hơn. Ngoài ra quỹ này nhiều khi còn tránh cho công ty phải nộp vào ngân sách Nhà nước số lượng tiền lớn , do lãi của năm đó lớn bằng cách trích vào quỹ theo tỷ lệ. Quỹ được trích từ tổng doanh thu.

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY